Báo cáo phân tích tình hình trẻ em tại Việt Nam năm 2010 của Unicef Việt Nam:

In
(GD&TĐ)- Việt Nam đạt mức bình đẳng giới khá tốt. Số học sinh nữ ở cả hai cấp Tiểu học và Trung học chiếm gần một nửa, tỉ lệ hoàn thành Tiểu học đúng độ tuổi cao, đồng đều giữa các vùng miền... là những nét chính trong bản báo cáo phân tích tình hình trẻ em tại Việt Nam năm 2010 của Unicef Việt Nam.
>>>GD mầm non phải phù hợp với độ tuổi và khu vực
Giáo dục Tiểu học
Về tỉ lệ nhập học đúng độ tuổi bậc học Tiểu học, báo cáo của Unicef Việt Nam chỉ ra rằng: trong năm học 2006-2007, tỉ lệ nhập học đúng tuổi bậc Tiểu học là 96% trong đó tỉ lệ học sinh gái chiếm gần một nửa (49%).
Học sinh Tiểu học. Ảnh, gdtd.vn
Đồng thời, sự khác biệt giữa các vùng trong cả nước là khá nhỏ. Khu vực đồng bằng sông Hồng có tỉ lệ cao nhất là 98% trong khi đó Khu vực Tây Nguyên có tỉ lệ thấp nhất là 94%
Bản báo cáo phân tích khá rõ về giới tính trong độ tuổi nhập học Tiểu học: năm học 2006-2007 tổng số có 94% trẻ 6 tuổi đi học lớp 1 trong đó số trẻ em trai cao hơn, chiếm 96% và trẻ em gái chiếm 92%.
Tỷ lệ trẻ em đi học ở vùng nông thôn (94%) cao hơn thành thị (92%) một chút. Theo điều tra MICS: không có sự khác biệt lớn giữa các hộ gia đình có mức sống khác nhau. Cuộc điều tra cũng đưa ra những bằng chứng cho thấy trình độ học vấn của người mẹ có ảnh hưởng tích cực tới việc trẻ được đi lớp 1, cho dù sự khác biệt không đáng kể. Khu vực đồng bằng sông Hồng có tỉ lệ nhập học cao nhất với 99% còn hai khu vực miền núi phía Bắc thì có tỉ lệ thấp nhất với 87% và 89%.
Tỉ lệ hoàn thành Tiểu học đúng độ tuổi cao, đồng đều giữa các vùng miền
MICS 2006 ước tính phần lớn các em vào học lớp một (98%) sẽ học đến hết lớp năm và không có sự khác biệt lớn giữa khu vực nông thôn và thành thị. Tỉ lệ này bao gồm cả những em lưu ban ở bậc Tiểu học.
Hai tiêu quan trọng ở bậc học này được báo cáo đưa ra là: tỉ lệ hoàn thành Tiểu học và tỉ lệ hoàn thành Tiểu học đúng tuổi.
Tỉ lệ hoàn thành Tiểu học ở vùng Tây Bắc là thấp nhất, chỉ có 50%, sau đó đến Tây Nguyên chỉ với 65%. Sự chênh lệch lên lên tới 40 điểm phần trăm giữa khu vực có tỉ lệ cao nhất là Đồng bằng sông Hồng (90%) với khu vực có tỉ lệ thấp nhất là Tây Bắc (49%).
Tỉ lệ hoàn thành Tiểu học đúng tuổi theo vùng, năm 2006, thấp nhất là Đông Bắc 49,4%, cao nhất là đồng bằng Sông Hồng 90,2% và cao thứ hai là vùng Bắc Trung Bộ đạt 88,3%.Hầu hết trẻ hoàn thành tiểu học đều chuyển lên trung học cơ sở. Tỉ lệ chuyển tiếp là 91% và không có sự khác biệt lớn giữa các khu vực và giữa khu vực thành thị và nông thôn.
Giáo dục Trung học
Vì đã đạt được phổ cập Giáo dục Tiểu học nên Chính phủ đề ra mục tiêu đạt phổ cập giáo dục Trung học cơ sở (THCS) vào năm 2010. Báo cáo Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ năm 2008 cho thấy tỉ lệ nhập học đúng tuổi bậc THCS là 79% trong năm học 2006-2007, với 83% ở khu vực thành thị và 78% ở khu vực nông thôn.
Vùng Đồng bằng sông Hồng có tỉ lệ cao nhất với 87% còn vùng Tây Bắc có tỉ lệ thấp nhất, chỉ với
61%. Báo cáo này cũng chỉ ra rằng tỉ lệ hoàn thành THCS trong năm 2004-2005 là 81%, và tăng lên một chút trong năm 2005-2006 (82%) nhưng lại giảm xuống còn 77% vào năm học 2006-2007. Trong năm học 2006-2007, vùng Đồng bằng sông Hồng có tỉ lệ cao nhất (92%) còn vùng Đồng bằng sông Cửu Long thì có tỉ lệ thấp nhất (59%)
Ngoài ra, báo cáo này cũng cho thấy số trẻ em dân tộc thiểu số theo học THCS tiếp tục tăng. Trong năm học 2005-2006, trẻ em dân tộc thiểu số chiếm 14,2% tổng số học sinh, và có tăng lên tới 15% trong năm học tiếp theo. Tỉ lệ này khác nhau đáng kể giữa các vùng miền trên cả nước: 45% ở khu vực Đông Bắc, 80% ở khu vực Tây Bắc và 30% ở khu vực Tây Nguyên. Trong cùng thời kỳ, tỉ trọng học sinh dân tộc thiểu số đi học THPT là 10%.
 
Các học sinh đầu cấp của trường PTTH Gia Lộc, Hải Dương trong Lễ khai giảng năm học mới 2010-2010. Ảnh, gdtd.vn
Một số học sinh không theo học THCS song không hẳn là đã bỏ học – một số có thể còn đang phải lưu ban học lại các lớp tiểu học. Ước tính có tới 5% trẻ ở độ tuổi THCS vẫn đang học lại Tiểu học và 16% thì chưa bao giờ đi học THCS hoặc bỏ học.
MICS 2006 không cho thấy sự khác biệt về giới ở tỉ lệ đi học Trung học ở vùng nông thôn. Tuy nhiên, tỉ lệ trẻ em gái thành thị đi học THCS (91%) cao hơn tỉ lệ trẻ em trai (86%). Ở bậc trung học, tỉ lệ này tăng lên theo mức sống của hộ gia đình và trình độ học vấn của người mẹ đối với các trẻ em trai và trẻ em gái. Tỉ lệ nhập học đúng tuổi cấp trung học trong các hộ nghèo nhất là 60% trong khi con số đó là 92% trong các hộ giàu nhất. Tỉ lệ này trong số trẻ có mẹ không đi học là 66%, còn đối với trẻ có mẹ có trình độ trung học phổ thông là 95%.
Cam kết phát triển và nâng cao chất lượng Giáo dục
Năm 1991, Quốc hội đã thông qua Luật Phổ cập Giáo dục Tiểu học, Năm 2005, Quốc hội phê duyệt Luật Giáo dục sửa đổi. Luật bao gồm các mục và điều khoản liên quan đến Giáo dục cho Mọi người...
Bản báo cáo ghi nhận những Cam kết mạnh mẽ của Việt Nam đối với Giáo dục cũng được thể hiện thông qua việc ban hành Chiến lược Quốc gia về Giáo dục cho Mọi người vào đầu thập niên 90, đề ra một số mục tiêu quốc gia và chỉ tiêu cụ thể cho đến năm 2000. Đây là kết quả thực hiện cam kết quốc tế mà Chính phủ Việt Nam đã tham gia tại Hội nghị Giáo dục Thế giới Dakar năm 2000 nhằm xây dựng một kế hoạch dài hạn.
Kế hoạch Hành động Giáo dục cho Mọi người giai đoạn 2003-2015 (kế hoạch EFA) nêu cụ thể rằng “quyền được Giáo dục của trẻ em và người lớn là nhân tố then chốt trong Luật Giáo dục Việt Nam và Việt Nam dành nhiều nỗ lực và nguồn lực để thực hiện quyền này.” Bản Kế hoạch EFA bao gồm 4 hợp phần chính: chăm sóc trẻ thơ và giáo dục mầm non, Giáo dục Tiểu học, Giáo dục THCS và giáo dục phi chính quy.
Kế hoạch EFA khẳng định ngân sách Nhà nước giữ vai trò là nguồn ngân sách chủ yếu thực hiện kế hoạch, và các khoản chi của Chính phủ cho Giáo dục dự kiến sẽ tăng từ 3,7% năm 2002 lên 4,2% GDP vào năm 2015. Kế hoạch dự kiến, ngân sách Nhà nước sẽ hỗ trợ tài chính 20% tỉ trọng cho Giáo dục.Đồng thời, việc hiện đại hóa quản lý Giáo dục có hiệu quả và việc thực hiện nghiêm túc Kế hoạch EFA sẽ giúp đạt được các mục tiêu trọng yếu vào năm 2015.
Trong Kế hoạch Chiến lược Phát triển Giáo dục 2001-2010, Chính phủ đã cố gắng nhiều hơn để xây dựng các chính sách và những can thiệp nhằm duy trì Phổ cập Giáo dục Tiểu học, đáp ứng mục tiêu Phổ cập Giáo dục THCS vào năm 2010 và đạt tỉ lệ nhập học Mầm non là 95%.
Nâng cao chất lượng Giáo dục là một trong những ưu tiên gần đây của ngành Giáo dục. Kết quả của nó là cải cách chương trình giảng dạy cấp Tiểu học và Trung học, và xây dựng các chuẩn quốc gia về học tập.
Đồng thời cho rằng: năm 2008, Bộ GD-ĐT phát động phong trào thi đua toàn quốc “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”, với mục tiêu hình thành một môi trường giáo dục an toàn, thân thiện và hiệu quả, phù hợp với các điều kiện địa phương và đáp ứng nhu cầu xã hội, nhằm thúc đẩy tính năng động và sáng tạo của học sinh trong học tập và các hoạt động xã hội.
Phân tích nguyên nhân - kết quả
Theo luật, học sinh ở cấp Tiểu học ở các trường công lập không phải đóng học phí. Tuy nhiên, các gia đình có con em đi học vẫn phải chi trả các chi phí khác như đi lại, đồng phục, và sách vở học tập. Ở những vùng cao nghèo khó, trẻ em dân tộc, trẻ em con hộ nghèo nhập học tiểu học được được miễn giảm các khoản tiền chính theo quy định của Chương trình mục tiêu quốc gia về Giảm nghèo và Chương trình 135 – II...
Học sinh trường PTTH Gia Lộc, Hải Dương. Ảnh, gdtd.vn
Nhiều trẻ em không được đến trường hay không thể hoàn thành cấp tiểu học đơn giản là vì khó khăn kinh tế, hoặc các em phải làm việc giúp gia đình. Làm thế nào để duy trì và tăng tỉ lệ nhập học của học sinh tiểu học và đảm bảo các em sẽ hoàn thành giáo dục tiểu học bắt buộc vẫn là một thách thức đáng kể.
Để hoàn thành phổ cập trung học cơ sở, cần phải giải quyết một số khó khăn, trong đó có vấn đề liên quan đến các khoản phụ huynh phải chi trả trực tiếp. Những chi phí này cao hơn những khoản phải chi cho tiểu học và khiến cho việc đến trường của trẻ em ở vùng sâu vùng xa hoặc trẻ em trong những gia đình có thu nhập thấp gặp nhiều khó khăn. Thời gian học trên lớp còn hạn chế...
Những rào cản và thách thức
Thời gian học trên lớp của bậc tiểu học ở Việt Nam thấp nhất Khu vực châu Á
Theo Ngân hàng Thế giới, lượng thời gian dành cho giảng dạy tiểu học ở Việt Nam hàng năm chưa đến 700 giờ, đó là nhược điểm chính của hệ thống giáo dục. Khoảng 45% học sinh vẫn đang học nửa ngày (dưới 30 tiết học một tuần, tương đương khoảng 20 giờ một tuần). Vì vậy, Việt Nam bị xếp ở mức rất thấp so với các nước khác trong khu vực.
Cũng trong báo cáo đó, có mối liên hệ tích cực rõ ràng giữa các trường có tỷ lệ học sinh đi học cả ngày hoặc lẫn nửa ngày (học sinh học tối thiểu 30 tiết, hoặc 6 buổi, một tuần) và các trường có điểm thấp môn Toán và tiếng Việt. Thời lượng học trên lớp ít chủ yếu là do sự phân bổ giáo viên không hiệu quả và do khối lượng công việc của giáo viên ít (tỉ lệ sử dụng giáo viên thấp). Lý do khác là do thiếu nguồn lực nhà trường.
Bất bình đẳng giới tại nông thôn và vùng dân tộc thiểu số
Chính phủ đã nhận thấy một số trở ngại chính cho việc thực hiện giáo dục trong một số nhóm dân cư, đặc biệt là giữa các nhóm dân tộc thiểu số.
Báo cáo chỉ ra rằng: Có bằng chứng cho thấy khi hộ gia đình nông thôn nghèo phải lựa chọn cho con trai hay con gái đi học, nhìn chung con gái sẽ không được đi học. Việc này hiển nhiên dẫn đến tỉ lệ giáo dục trung học thấp và sự thiếu năng lực của phụ nữ. Đồng thời, nó cũng làm cho tỉ lệ lao động nữ trong các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp tăng cao, và vắng mặt phụ nữ trong các vị trí quản lý và lãnh đạo.
Bản báo cáo đánh giá: Bộ GD-ĐT phát động phong trào thi đua toàn quốc “THTT, HSTC” với mục tiêu hình thành một môi trường giáo dục an toàn, thân thiện... phù hợp với các điều kiện địa phương và đáp ứng nhu cầu xã hội. Ảnh, gdtd.vn
Đồng thời khuyến nghị: Cần phải lồng ghép vấn đề giới vào các chính sách, chiến lược và các hoạt động thực tiễn, và sử dụng các số liệu phân tổ để giám sát vấn đề bình đẳng giới. Bình đẳng giới, đặc biệt là bình đẳng giới cho em gái dân tộc thiểu số vẫn chưa được quan tâm đầy đủ.
Nghiên cứu của Bộ GD&ĐT, UNESCO và UNICEF chỉ ra một trong những nguyên nhân khiến trẻ em gái dân tộc thiểu số không học tiếp lên Trung học là vì các gia đình còn chưa đề cao giá trị giáo dục cho trẻ em gái mà thường chuyển cơ hội đó cho trẻ em trai.
Đồng bào dân tộc thiểu số xác định rào cản đối với quyền được Giáo dục của các em gái dân tộc thiểu số bao gồm: những khó khăn về tài chính và kinh tế của gia đình; trẻ em gái cần phải làm việc để giúp đỡ gia đình; phụ huynh và các em giái đánh giá sai về giá trị Giáo dục; chất lượng dạy và học ở trường thấp; và cơ cấu trường học không đầy đủ.
Thiếu giáo viên có trình độ
Việc thiếu hụt giáo viên cũng tác động đến những nỗ lực, nhất là nỗ lực đạt phổ cập Giáo dục THCS vào năm 2010. Giáo viên tiểu học có trình độ tương đối khá. Tuy nhiên, ở vùng sâu vùng xa, miền núi và dân tộc thiểu số, vẫn còn có một số lượng giáo viên tiểu học chưa đạt chuẩn, bản báo cáo nhận định.
Chính phủ đã có nhiều giải pháp hỗ trợ đạt chuẩn cho những giáo viên này thông qua nhiều Chương trình, dự án giáo dục, bao gồm: Dự án Phát triển giáo viên tiểu học và Dự án Giáo dục tiểu học cho Trẻ em thiệt thòi.
Giáo viên dạy các môn mỹ thuật, hát, nhạc và giáo dục thể chất, và các môn học mới như tin học và ngoại ngữ cũng đang thiếu. Cũng cần phải nghiên cứu kỹ hơn tính phù hợp của các giáo trình, các phương pháp dạy học và đánh giá. Hệ thống Giáo dục và đào tạo hiện nay không đáp ứng đủ yêu cầu cần thiết của lực lượng lao động, với thực tế là hầu hết các chương trình giảng dạy dường như “không gắn” với nhu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam.
Học sinh không đủ tiêu chuẩn nhưng vẫn lên lớp
Kết quả phỏng vấn nội dung này cho thấy giáo viên bị áp lực trước việc học sinh chuyển cấp. Điều này dẫn đến việc một số giáo viên đã “gian lận” bằng cách cho các học sinh không đủ tiêu chuẩn lên lớp để báo cáo thành tích lên lớp của mình. Việc này rất phản tác dụng với chính những học sinh này vì các em không thể theo kịp trình độ của lớp trên, do đó sẽ càng làm tăng khả năng bỏ học của học sinh. Để xóa bỏ những tiêu cực này, Bộ GD&ĐT đã triển khai cuộc vận động “Hai Không: Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục” trong năm 2007.
Những thách thức trong ngành Giáo dục đến năm 2015
Yêu cầu xây dựng một lực lượng lao động ngày càng có khả năng vận dụng những công nghệ phức tạp, đáp ứng được các loại hình tổ chức kinh tế và khu vực công, theo kịp những tiến bộ toàn cầu.
Tạo bước chuyển biến quan trọng từ tập trung vào số lượng sang chất lượng Giáo dục đòi hỏi phải thực sự cải tiến nội dung Giáo dục, phương pháp sư phạm, kết quả học tập, hệ thống kiểm tra, thái độ dạy và học, và cả hệ thống quản lý Giáo dục.
Trẻ em thiệt thòi phải được đến trường và từ đó hòa nhập vào xã hội hiện đại sẽ cần phải có các hướng tiếp cận khác nhau và phức tạp hơn các hướng tiếp cận trước đây. Nhu cầu xuất hiện ngày càng rõ nét của chu trình Giáo dục cơ bản 9 năm liên tục cho mọi người.
Thay đổi về nhân khẩu học ảnh hưởng đến dân số trong độ tuổi đến trường và đặt ra những nhiệm vụ to lớn về tổ chức và xã hội trong việc phân bổ lại giáo viên và cơ sở hạ tầng. Động lực gắn liền với việc phân cấp quản lý và dẫn đến những biến đổi sâu sắc trong mô hình.
Về trách nhiệm-quyền hạn-trách nhiệm giải trình ở tất cả các cấp quản lý Giáo dục và quyền hạn gia tăng cho chính quyền địa phương;
Một hướng tiếp cận mới trong việc phân bổ tài chính cho Giáo dục và dựa trên cơ sở năng lực và trao quyền tự chủ nhiều hơn cho nhà trường.
Từng bước đưa ra những thay đổi sâu sắc về cách thức quản lý hệ thống Giáo dục, đây là điều kiện cần thiết nhằm giải quyết những thách thức khác.
(Một số phụ đề do phóng viên đặt ra, xem chi tiết chương 4 bản báo cáo tại đây)
(Báo cáo tổng thể tại đây)
Giang Đông (lược trích)

Tin mới hơn:
Tin đã đăng: