Sở Giáo dục và Đào Tạo Bến Tre

Nhìn lại 3 năm đổi mới chương trình & sách giáo khoa Trung học phổ thông

Email In PDF.

(GD&TĐ) - Kết thúc năm học (NH) 2008-2009 vừa qua, cũng là kết thúc chặng đường triển khai đại trà trên phạm vi cả nước chương trình và sách giáo khoa (CT & SGK) mới lớp 12 bậc THPT. Kết quả thu được là khả quan, trong đó có 2 vấn đề nổi bật là: đa số học sinh (HS) chọn ban cơ bản và phần lớn giáo viên (GV) vẫn chưa theo kịp đòi hỏi của CT & SGK mới, khi họ vẫn theo thói quen lên lớp bằng phương pháp đọc – chép hết sức lạc hậu.

Từ lớp 10 NH 2006-2007, các trường THPT cả nước phân thành 3 ban: ban cơ bản; ban khoa học tự nhiên (KHTN) và ban khoa học xã hội (KHXH) kết hợp nâng cao. Theo đó, việc phân hóa GD THPT được thực hiện bằng cách kết hợp phân ban với dạy học tự chọn. CT GD THPT được chia thành CT chuẩn và CT nâng cao (theo 8 môn học phân hóa là: Toán; Vật lý; Hóa học; Sinh vật; Ngữ văn; Lịch sử; Địa lý và Ngoại ngữ). SGK theo đó cũng được biên soạn theo CT chuẩn và CT nâng cao.

Theo “Báo cáo đánh giá 3 năm thực hiện CT-SGK THPT từ NH 2006-2007 đến 2008-2009” của Bộ GD & ĐT: Thực tế cho thấy, ban cơ bản với nhiều hình thức phân hóa khác nhau đáp ứng được nguyện vọng của đa số HS. Đáng chú ý đến NH 2008-2009 có 64% HS lớp 10 chọn học 1-2 môn nâng cao, hoặc không chọn môn nâng cao này, đặc biệt là các vùng Tây Bắc; Tây Nguyên; Đồng bằng sông Cửu Long. Bộ phận này thể hiện rõ định hướng không dự thi tuyển sinh ĐH, CĐ (xem các bảng phụ lục).

· Phụ lục 1: Tỷ lệ % HS học theo Ban:

Năm học

Lớp

Ban KHTN

Ban KHXH

Ban cơ bản

2006-2007

10

19.38

6.41

74.22

2007-2008

11

15.22

3.03

81.75

12

18.38

4.79

76.83

2008-2009

10

14.24

1.92

83.84

11

16.07

2.68

81.26

12

18.73

4.55

76.72

· Phụ lục 2: Tỷ lệ % HS học phân hóa trong ban cơ bản (Phân hóa theo khối thi ĐH: A; B; C; D):

Năm học

Lớp

Cơ bản-A

Cơ bản-B

Cơ bản -C

Cơ bản -D

Học 1-2 môn nâng cao

Không học nâng cao

2006-2007

10

16.35

4.57

9.44

7.22

6.34

31.68

2007-2008

10

15.44

3.0

5.07

7.17

2.79

48.29

11

15.63

2.66

5.85

6.12

3.16

43.42

2008-2009

10

17.24

2.72

3.62

5.15

4.64

50.47

11

17.30

2.65

3.84

4.96

4.16

48.35

12

16.14

2.5

4.22

5.14

3.95

44.77

Đánh giá của Bộ GD & ĐT: Sau 3 năm triển khai đại trà CT-SGK mới THPT cho thấy đã đạt được nhiều hiệu quả. Thứ nhất, CT bám sát mục tiêu GD cấp học, thể hiện đúng đường lối quan đểm GD của Đảng – Nhà nước. Thứ hai: CT GD các môn học đã đảm bảo được tính chính xác, khoa học, hiện đại, cập nhật và tiếp cận được trình độ GD ở các nước phát triển trong khu vực, đáp ứng xu thế phát triển của XH Việt Nam thời hội nhập quốc tế. Thứ ba: Nội dung và yêu cầu của CT ở nhiều môn học nhìn chung phù hợp với trình độ phát triển tâm – sinh lý của HS SV. CT có chú ý đến sự phân hóa trình độ nhận thức của HS, CT chuẩn phù hợp với trình độ nhận thức của phần đông HS VN và CT nâng cao đáp ứng nhu cầu, năng lực cá nhân của HS khá-giỏi. CT đã chú ý đến tính liên thông giữa các môn học và giữa các cấp học, đảm bảo nguyên tắc kế thừa và phát triển từ các CT GD trước đây. CT phần nào cũng thể hiện sự tích hợp nhiều phần môn trong một môn học, tích hợp nhiều lĩnh vực ở một số môn học. Các mạch kiến thức xuyên suốt từ lớp 10 -> 12, các chủ đề cụ thể trong từng lớp của CT mỗi môn học đều được sắp xếp hệ thống theo kiểu tuyến tính hoặc đồng tâm, đã tạo điều kiện cho HS vừa củng cố, ôn luyện vững chắc kiến thức, vừa nâng dần kỹ năng tư duy. CT mỗi môn học đều nêu cụ thể những định hướng đổi mới phương pháp dạy học (PPDH), đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập. CT các môn học hầu hết đã giảm tính hàn lâm, chú trọng hơn tới yêu cầu phát triển kỹ năng thực hành – thí nghiệm và liên hệ vận dụng vào thực tiễn.

Những hạn chế chủ yếu của CT là: CT một số môn học còn yêu cầu cao, khiến HS dân tộc thiểu số, HS vùng kinh tế đặc biệt khó khăn và HS có học lực yếu kém khó theo kịp. Còn có sự trùng lặp nội dung một số môn học như: Sinh học và Công nghệ; Hoạt động ngoài giờ lên lớp và GD công dân; GD hướng nghiệp và Nghề phổ thông. So với CT GD ở các nước phát triển, một số nội dung GD như: GD Thể chất; dạy học Ngoại ngữ; GD kỹ năng sống; ứng dụng Công nghệ Thông tin còn hạn chế, chưa thể hiện tốt quan điểm tích hợp trong xây dựng CT…

Tất cả những điểm mạnh, điểm yếu của CT GD THPT kể trên, cũng chính là cái được, cái chưa được của SGK THPT đổi mới. Rõ nét nhất là: SGK được biên soạn với quan niệm hiện đại, sách không chỉ nêu nội dung kiến thức, mà đã chú trọng đến việc thiết kế các hoạt động học tập. Do đó, SGK đã giúp GV định hướng đổi mới PPDH và hỗ trợ HS tự học, tự phát hiện chiếm lĩnh tri thức mới. Qua đó hình thành phương pháp học tập tích cực chủ động cho HS.

Trong quá trình thực hiện CT & SGK mới THPT, Bộ GD&ĐT đã tiếp thu ý kiến đóng góp từ nhiều phía. Từ NH 2008-2009, Bộ cho phép nâng từ 35 tuần lên 37 tuần thực học, điều chỉnh thời lượng và tích hợp một số hoạt động GD, giảm số tiết học hàng tuần, giúp các trường chủ động giảm tải. Kèm theo đó, Bộ GD&ĐT đã điều chỉnh khung phân phối chương trình NH hợp lý hơn cho các trường THPT cả nước. Nhiều tài liệu hướng dẫn dạy học theo chuẩn kiến thức – kỹ năng của chương trình THPT mới, cũng đã được Bộ biên soạn cho NH mới 2009-2010. Theo đó, GV và HS được xác định rõ ở từng bài các nội dung cần dạy và học cho mỗi loại đối tượng HS (giỏi; khá; trung bình; yếu; kém). Bộ GD&ĐT đã tổ chức tiếp thu nghiêm túc và sửa chữa các sai sót, các lỗi kỹ thuật ở mỗi cuốn SGK, đồng thời khai trương mục “Góp ý SGK” trên trang điện tử của Bộ GD&ĐT…

Có thể trả lời ngay: Vì sao đa số HS chọn học ban cơ bản ? Đây là ban được sắp xếp học tự chọn theo kế hoạch đa dạng, phong phú hơn 2 ban KHTN & KHXH. Học ban cơ bản, HS được học chủ đề bám sát theo CT chuẩn của 3 trong 6 môn học: Toán; Lý; Hóa; Sinh; Ngữ văn; Ngoại ngữ. HS cũng được học chủ đề nâng cao theo CT chuẩn: học 3 môn nâng cao trong 8 môn: Toán; Lý; Hóa; Sinh; Ngữ văn; Sử; Địa; Ngoại ngữ. Nói rộng hơn, theo học ban cơ bản, các em HS có nhiều cơ hội chọn lựa ngưỡng cửa vào đời, nhất là khi chọn khối thi tuyển sinh vào ĐH; CĐ; hoặc xét tuyển vào CĐ; TCCN và học nghề…

Một trong những “rào cản” lớn nhất sau 3 năm triển khai đại trà CT & SGK mới THPT là: nhiều GV còn quá lệ thuộc vào SGK cũng như sách hướng dẫn GV, chưa dám chủ động vận dụng linh hoạt nội dung dạy học cho phù hợp với đặc điểm địa phương và khả năng nhận thức của HS. GV còn nhiều hạn chế về sử dụng thiết bị dạy học và Công nghệ Thông tin khi lên lớp. Đáng lo hơn, công tác chỉ đạo đổi mới kiểm tra, thi cử, đánh giá ở nhiều trường còn nặng về yêu cầu tái hiện kiến thức; chưa chú trọng đến yêu cầu thực hành, vận dụng kiến thức, kỹ năng và suy nghĩ sáng tạo, rèn luyện năng lực tự học cho HS. Việc đổi mới PPDH của đa số GV còn chậm, kiểu dạy học nặng về “đọc-chép” vẫn còn phổ biến, điều đó gây nên tâm lý thụ động, tiết học trở nên nhàm chán nặng nề. Một số GV quá lạm dụng Công nghệ Thông tin còn biến “đọc chép” thành “nhìn chép”…

Góp phần quan trọng làm nên thành công bước đầu của CT & SGK mới THPT phải kể đến việc Bộ GD&ĐT đã tích cực chỉ đạo đổi mới phương thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS. Theo đó, khi tổ chức thi – kiểm tra – đánh giá HS, cần bám sát chuẩn kiến thức kỹ năng của CT các môn học, để đặt câu hỏi, ra đề theo hướng: yêu cầu HS nắm vững bản chất kiến thức, có kỹ năng tư duy độc lập, biết vận dụng kiến thức một cách sáng tạo để giải quyết vấn đề, hạn chế thấp nhất việc học thuộc máy móc theo SGK. Các môn Ngữ văn; Lịch sử; Địa lý; GD Công dân cần hạn chế ghi nhớ máy móc, từng bước ra đề kiểm tra - đề thi dạng “mở”, đòi hỏi vận dụng tổng hợp kiến thức kỹ năng và có thể biểu đạt chính kiến khi làm bài. Các môn Âm nhạc; Mỹ thuật (ở bậc THCS) và GD Thể chất được đánh giá bằng điểm hoặc bằng nhận xét kết quả học tập. Kết hợp một cách hợp lý hình thức thi tự luận với hình thức thi trắc nghiệm khách quan, tránh lạm dụng hình thức trắc nghiệm khách quan. Phương hướng sắp tới, Bộ GD&ĐT yêu cầu đưa thêm các câu hỏi có phần sử dụng thiết bị dạy học và trong đề thi nhằm 2 mục đích. Thứ nhất, qua đó buộc các trường học và các GV thường xuyên sử dụng thiết bị dạy học. Thứ hai, giúp HS nước ta tiếp cận nhanh với phương pháp học tiên tiến của HS các nước…

Tại “Hội thảo đánh giá ba năm thực hiện CT & SGK THPT” tổ chức ở TP.HCM ngày 19/9/2009, Bộ GD&ĐT đã đề ra phương hướng: “Chuẩn bị những cơ sở khoa học cho việc xây dựng CT GD phổ thông mới theo hướng đẩy mạnh GD toàn diện; chú trọng GD đạo đức – kỹ năng sống; GD pháp luật và GD hướng nghiệp; tích hợp những lớp dưới; phân hóa mạnh ở những lớp trên; chú trọng GD quốc phòng – an ninh; tăng cường các hoạt động xã hội của HS để bảo tồn các truyền thống văn hóa xã hội; nhằm xây dựng nền học vấn phổ thông cơ bản, vững chắc và phát triển năng lực cá nhân của người học, phù hợp với điều kiện học tập của mỗi HS, đáp ứng yêu cầu của xã hội hiện đại”.

Sắp tới, khi Luật GD được sửa đổi, Bộ GD&ĐT sẽ chú trọng biên soạn các tài liệu nghe-nhìn hỗ trợ cho việc dạy và học. Tiếp tục dạy học phân hóa và thí điểm mô hình trường THPT kỹ thuật. Từ năm 2010, bắt đầu nghiên cứu xây dựng một CT GD phổ thông mới sẽ áp dụng sau năm 2015. Phấn đấu đến năm 2020 có đủ GV thực hiện GD toàn diện, dạy học các môn học tích hợp, dạy học phân hóa, dạy học chính khóa 2 buổi/ngày ở bậc tiểu học và một phần ở bậc THCS-THPT. Ban hành các chương trình bồi dưỡng cán bộ quản lý GD, bồi dưỡng thường xuyên GV THPT theo hướng xuất phát từ nhu cầu của chính đội ngũ này, kết hợp bồi dưỡng với tự học, tăng cường bồi dưỡng về ứng dụng CNTT vào dạy học và quản lý v.v…

Theo TS Nguyễn Vinh Hiển – Thứ trưởng Bộ GD&ĐT: Trong quá trình thực hiện CT & SGK mới bậc THPT cần phải thấy: Không phải cái gì khó là đề nghị bỏ hoặc phải chỉnh sửa ngay được. Có cái khó có thể điều chỉnh được ngay, có cái khó phải cần thời gian nghiên cứu đúc kết kinh nghiệm trên cơ sở pháp lý và khoa học mới điều chỉnh được. Để đảm bảo trình độ GV tương xứng với đòi hỏi của CT & SGK mới, các trường sư phạm cần chú ý đào tạo GV dạy được 2 môn. Cán bộ quản lý GD các cấp cần tăng cường hơn nữa sự chủ động trong điều hành công việc, phát huy cao độ quyền dân chủ của GV – của Hiệu trưởng đồng thời tăng cường kiểm tra giám sát. Sắp tới Bộ GD&ĐT sẽ tổng kết đánh giá cụ thể từng bộ môn sau 3 năm triển khai đại trà CT & SGK mới THPT. Tiếp tục thực hiện phân luồng sau THCS, sau THPT nhưng triệt để hơn bằng cách gắn kết chặt chẽ giữa việc phát triển hệ thống GD phổ thông, với việc điều chỉnh cơ cấu hệ thống GD nghề nghiệp và GD ĐH trong tương lai. Công tác kiểm định, đánh giá GV và HS không chỉ để xếp loại thi đua, mà quan trọng hơn là giúp họ thấy rõ cái mạnh để phát huy và cái yếu để khắc phục vươn lên bằng cách tự học. Điều quan trọng nhất là: người thầy phải thường xuyên chủ động hướng dẫn HS sử dụng SGK, sách tham khảo, cách tự học ở nhà, chứ không đơn thuần chỉ lo việc cung cấp kiến thức cho các em khi lên lớp…

Đinh Lê Yên